18/02/2024

Tin Tức 365

Cập Nhật Tin Tức Công Nghệ | Đời Sống | Sport | Nghệ Thuật | Y Học

Tìm hiểu về bệnh rối loạn tiền đình là gì?

4 phút, 12 giây để đọc.

Hệ thần kinh là một hệ cơ quan có khả năng biệt hóa cao nhất trong cơ thể người giúp điều hòa mọi hoạt động của cơ thể, thực hiện các hoạt động điều khiển vô cùng phức tạp. Một trong những bệnh thường gặp về hệ thần kinh là bệnh rối loạn tiền đình. Rối loạn tiền đình này thường kèm theo một số bệnh lý như thiếu máu não, tiểu đường, cao huyết áp… có thể là nguyên nhân dẫn đến đột quỵ, đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Vậy bệnh rối loạn tiền đình là gì và được phân loại như thế nào? Những điều cần biết về bệnh rối loạn tiền đình dưới đây sẽ giúp bạn có thêm những thông tin cơ bản.

Bệnh rối loạn tiền đình là gì?

Theo các bác sĩ chuyên khoa, tiền đình là một hệ thống thuộc hệ thần kinh nằm ở phía sau ốc tai (hai bên), có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình. Các tín hiệu âm thanh được chuyển từ dạng cơ học sang dạng xung thần kinh để dẫn truyền theo dây thần kinh thính giác (dây số 8) truyền về não. Cơ quan chuyển xung âm thanh dạng cơ học sang dạng điện thần kinh là ốc tai. Gắn liền với ốc tai là ba vòng bán khuyên, tạo hình 3D trong không gian, giúp cơ thể nhận biết vị trí của mình trong không gian 3 chiều.

Bệnh rối loạn tiền đình là gì?

>>> Đọc thêm tại Sức khỏe

Những rối loạn có liên quan đến tiền đình là xuất phát từ bộ phận này, do các nguyên nhân chính như virus gây viêm thần kinh sọ não số 8, thoái hóa một trong các cơ quan của hệ tiền đình, viêm tai giữa, chấn thương mê lộ, nghẽn tắc động mạch tiền đình, co thắt động mạch cột sống,…

Những người ngồi nhiều trong phòng lạnh, tiếp xúc thường xuyên với máy tính, thức quá khuya có nguy cơ gây ảnh hưởng đến tiền đình và lâu dần sẽ diễn biến thành bệnh.

Nguyên nhân tiền đình trung ương

  • Thiểu năng tuần hoàn sống nền;
  • Hạ huyết áp tư thế;
  • Hội chứng Wallenberg;
  • Nhồi máu tiểu não;
  • Xơ cứng rải rác;
  • U tiểu não…
  • Nhức đầu Migraine.
  • Bệnh Parkinson;
  • Giang mai thần kinh,

Biểu hiện lâm sàng 

  • Chóng mặt
  • Mất thăng bằng, đi đứng không vững
  • Thường có cảm giác người yếu ớt, mệt mỏi
  • Mắt mờ khi cử động cổ và đầu
  • Thấy buồn nôn, muốn ngất
  • Thiếu tập trung
  • Ù tai
  • Ngồi xổm quá lâu khi đứng lên sẽ hoa mắt chóng mặt
  • Mất ngủ,…

Nếu bệnh nhân có xuất hiện kèm theo các biểu hiện sau thì rất nguy cơ bệnh đã phát triển thành các bệnh tai biến động mạch não, u bướu não, bệnh Parkinson, bệnh tim mạch, bệnh đa sơ cứng:

– Xuất hiện những cơn nhức đầu đột ngột

– Mờ mắt nhìn sự vật không rõ

– Thính giác giảm

– Mất khả năng định hướng về không gian và thời gian

– Khó khăn trong việc nói; -tay chân thường xuyên run rẩy

– Mất thăng bằng cơ thể-muốn ngã

– Các đầu ngón chân, tay có cảm giác tê dại

– Tức ngực, nhịp tim thất thường

– Trở mình thấy lao đao, ngồi dậy khó khăn

– Chỉ nằm được ở một tư thế, không ngồi dậy nổi, nôn dữ dội, mở mắt ra thấy mọi vật quay cuồng đảo lộn.

Bệnh rối loạn tiền đình rất dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, những người ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy vi tính. Do đó, nếu thấy các dấu hiệu bệnh đáng nghi ngờ như trên, bạn nên đến ngay các đơn vị chuyên khoa để được tư vấn, thăm khám và điều trị, tránh các biến chúng khôn lường về sau.

Chẩn đoán rối loạn tiền đình

Chẩn đoán rối loạn tiền đình

  • Xét nghiệm điện và sử dụng các điện cực nhỏ đặt lên vùng da xung quanh mắt, nhằm đo chuyển động của mắt để đánh giá các dấu hiệu của rối loạn chức năng tiền đình hay các vấn đề về thần kinh.
  • Xét nghiệm xoay vòng để đánh giá sự hoạt động của mắt và tai. Xét nghiệm sử dụng kính video hoặc các điện cực để theo dõi chuyển động của mắt.
  • Xét nghiệm âm ốc tai cung cấp thông tin về các tế bào lông trong ốc tai, bằng cách đo sự đáp ứng của các tế bào tóc với các cú nhấp được tạo ra bởi một loa nhỏ chèn vào trong ống tai
  • Chụp cộng hưởng MRI sử dụng từ trường và sóng radio để tạo ra hình ảnh cắt ngang các mô cơ thể được quét. MRI não có thể phát hiện các khối u, đột quỵ và sự bất thường về mô mềm khác mà có thể gây chóng mặt hoặc ngất.